Cấu Tạo Chữ Hán

Cấu tạo chữ Hán


I.Nguồn gốc của chữ Hán:

 

Chữ Hán bắt nguồn từ Trung Quốc, chữ Hán cổ được hình thành dựa trên việc quan sát đồ vật xung quanh và vẽ thành dạng chữ tượng hình.

 

Chữ Hán cổ nhất được cho là chữ Giáp Cốt, tức là chữ được khắc trên mai rùa (giáp) hoặc xương thú (cốt), dùng để vẽ lại những hình dạng rất gần với những vật thật quan sát được.

 

Để chỉ ngọn núi, chữ Hán vẽ thành chữ 山 shān (sơn)

 

Để chỉ dòng nước, chữ Hán vẽ thành chữ 川 chuān (xuyên), sau viết thành chữ 水 (thủy)

 

Để chỉ ngọn lửa, chữ Hán vẽ thành chữ 火 huǒ (hỏa)

 

Để chỉ con cá, chữ Hán vẽ thành chữ 鱼 yú (ngư)

 

Để chỉ Mặt Trời, chữ Hán thành chữ 日 rì (nhật)

 

Để chỉ Mặt Trăng, chữ Hán vẽ thành chữ 月 yuè (nguyệt)

Các sự vật tương tự như mồm, tai, mắt, cái cây, con dê, con chim, con thỏ, cây trúc..., chữ Hán đều dùng hình vẽ để mô tả. Sau đó, nhu cầu ghi chép tăng lên, chữ Hán cũng từ đó mà phát triển theo, các kí tự trở nên phức tạp hơn, trừu tượng hơn, cho đến ngày nay thì các chữ Hán còn nguyên vẹn tính tượng hình của nó không còn nhiều.

 

II. Các giai đoạn phát triển của chữ Hán:

 

1. Chữ Giáp Cốt: là loại chữ Hán đầu tiên được hình thành, chữ được khắc trên mai rùa (giáp) hoặc xương thú (cốt), ra đời vào khoảng thời 1600-1020 trước Công Nguyên.

 

2. Chữ Kim Văn: là bước kế thừa của giáp cốt văn, ra đời vào cuối đời nhà Thương, thịnh hành vào đời  Tây Chu (tk XI trc.CN – 771 trc.CN), chữ khắc trên đồ kim khí như là chuông (chung) hay vạc (đỉnh).

 

3. Chữ Triện: (gồm Tiểu Triện và Đại Triện) được thống nhất sử dụng sau khi Tần Thủy  Hoàng thống nhất Trung Quốc (221 trc.CN).

4. Chữ Lệ thư : là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử phát triển chữ Hán. Nó đánh dấu việc chữ Hán hoàn toàn thoát khỏi hệ thống tượng hình, trở thành văn tự thực sự với sự ước lệ cao trong hình chữ.

 

5. Chữ khải thư: là bước phát triển hoàn thiện nhất của chữ Hán. Chữ Khải lưu truyền đến ngày nay, sau chữ Khải không còn thể chữ nào tiến bộ hơn nữa. Chữ Khải kết cấu chặt chẽ, nét bút chỉnh tề, lại đơn giản dễ viết, vô cùng quy phạm.

 

6. Chữ Thảo thư: là chữ Hán được viết rất nhanh.

 

7. Chữ Hành thư: là chữ khải viết nhanh, nhưng không đến mức như chữ Thảo. Hành thư viết tự do, là loại chữ được sử dụng phổ biến nhất trong quá trình viết tay.

 

Chữ thông dụng trong in ấn ngày nay là font chữ: simsun, kaiti (chữ khải)...

 

III. Các tên gọi khác nhau của chữ Hán

 

Chữ Hán, còn có các tên gọi khác là Hán tự, Hán văn hay chữ Trung quốc.

 

Chữ Hán có hai bộ chữ in tiêu chuẩn: chữ phổn thể và chữ giản thể.

 

Chữ Phổn thể là bộ chữ in có trước.

 

Chữ Phổn thể

Chữ Giản thể

Phiên âm

Âm Hán Việt

mén

Môn

chē

Xa

Ngữ

guó

Quốc

ràng

Nhượng

 

Chữ Phổn thể và Giản thể đều có âm đọc và nghĩa giống nhau, nhưng cách viết là khác nhau.

 

Chữ Giản thể là bộ chữ in có sau, được giản lược nét hoặc điều chỉnh bộ (dựa trên chữ Phổn thể) do chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quy định áp dụng từ năm 1949.

 

IV. Các khu vực chịu ảnh hưởng của chữ Hán

 

Chữ Hán có nguồn gốc bản địa, sau đó du nhập vào các nước lân cận trong vùng bao gồm Triều Tiên, Hàn Quốc, Nhật BảnViệt Nam, Singapore, Malaysia.

Hiện nay, Chữ Hán phổn thể hiện đang được dùng chính thức ở: Đài Loan, Ma Cao, Hồng Kông.

 

Chữ Hán giản thể được dùng chính thức, nhưng chữ phổn thể vẫn thông dụng ở Singapore, Malaysia.

 

Chữ giản thể được dùng chính thức ở Trung Quốc.

 

Chữ Hán được dùng song song với hệ chữ viết khác trong cùng ngôn ngữ, tại Hàn Quốc và Nhật Bản. Ví dụ trong chữ Nhật, có 1850 chữ Hán (trong tiếng Nhật gọi là chữ KANJI)

 

Trước đây, chữ Hán đã từng được dùng chính thức ở Mông Cổ, Triều Tiên, Việt Nam, nhưng hiện tại không dùng nữa.

 

Chữ Nho được dùng để chỉ chữ Hán do người Việt dùng trong các văn bản ở Việt Nam.

 

Các yếu tố cấu thành một chữ Hán


Yếu tố cấu thành một chữ Hán: Chính là Nét chữ

 

Một chữ Hán được cấu tạo từ các nét. Trong đó, một số nét chữ Hán sẽ tạo thành một bộ thủ. Trong tiếng Trung có khoảng 214 bộ thủ.

 

Vậy yếu tố cấu thành cơ bản của chữ Hán chính là các nét và các bộ (cũng được tạo từ các nét).

 

Trong chữ Hán có các nét cơ bản, và các nét biến thể từ các nét cơ bản.

 

I. Các nét cơ bản trong chữ Hán:

 

1. Nét ngang :  thẳng ngang, kéo từ trái sang phải.

 

2. Nét sổ: thẳng đứng, kéo từ trên xuống:

 

3. Nét phẩy 丿: cong, kéo xuống chếch từ phải qua trái.

 

4. Nét mác : cong, kéo xuống từ trái qua phải, hơi gấp khúc ở đoạn gần cuối.

 

5. Nét chấm hơi cong, nét thường ngắn, kéo từ trên xuống dưới.

 

6. Nét hất : hất chéo từ dưới lên trên, từ trái lên phải.

 

II. Các nét biến thể trong chữ Hán: 

 

Từ 6 nét cơ bản trên, các nét còn có thể biến thể thành 22 nét khác, ví dụ như: nét sổ ngang, sổ ngang móc, ngang sổ, phẩy chấm, sổ hất…

 

Quan sát các nét cơ bản và các nét biến thể của chữ Hán ở bảng bên dưới:

 

 

Quan sát các nét có trong chữ 水 shuǐ

 

 

Các nét được vẽ lần lượt là: 1.sổ móc -> 2.ngang phẩy -> 3.phẩy -> 4.mác

 

Quan sát các nét của chữ Hán (bao gồm cả nét cơ bản và các nét biến thể) khi nằm trong chữ Hán:

 

 

Kết cấu bố cục của một chữ Hán


Kết cấu bố cục của một chữ Hán:

 

Bố cục của một chữ Hán sẽ được bố trí theo các dạng kết cấu sau:

 

Bố cục

Ví dụ

Tỉ lệ

1. Kết cấu độc lập

米,日

Cân bằng, thẳng đứng

2. Kết cấu ba bên

品,森

Các bộ phận bằng nhau

3. Kết cấu trên - dưới

思,华

Trên dưới bằng nhau

霜,花

Trên nhỏ, dưới to

基,想

Trên to, dưới nhỏ

4. Kết cấu trên - giữa - dưới

Trên, giữa, dưới bằng nhau

裹,褒

Trên, giữa, dưới không bằng nhau

5. Kết cấu trái - phải

村,联

Trái, phải bằng nhau

伟,搞

Trái hẹp, phải rộng

刚,郭

Trái rộng, phải hẹp

6. Kết cấu trái - giữa - phải

街,谢

Trái-giữa-phải bằng nhau

滩,傲

Trái-giữa-phải không bằng nhau

7. Kết cấu bao cả chữ

圆,国

Bao cả chữ

8. Kết câu bao nửa chữ

医,区

Trái bao phải

庆,尾

Trên trái bao phải dưới

勺,句

Trên phải bao trái dưới

遍,建

Dưới trái bao phải trên

闻,闲

Trên bao dưới

凶,函

Dưới bao trên

 

Nắm được bố cục của một chữ Hán được phân chia theo các dạng kết cấu nào, giúp người học có cái nhìn tổng quan hơn, từ đó đưa ra được định hướng rõ ràng khi bắt đầu đặt bút để viết một chữ Hán.

 

Cụ thể, người học trước khi viết một chữ Hán, cần quan sát để nắm được:

 

1. Chữ Hán đó được cấu tạo theo kiểu kết cấu nào? Bố cục là gì? (trên-giữa-dưới-trái-phải-bao cả chữ/bao nửa chữ?)

 

2. Tỉ lệ phân chia giữa các thành phần trong chữ đó ra sao? (Cân bằng hay nhỏ hơn/lớn hơn?)

 

Cùng với việc nắm được bố cục kết cấu của chữ, và thuận theo quy tắc thuận bút, người học sẽ dễ dàng triển khai các bước để hoàn thành viết một chữ Hán hoàn chỉnh, cân đối.

 

 

Nguyên tác cấu tạo chữ Hán


NGUYÊN TẮC CẤU TẠO CHỮ HÁN:  

 

Mỗi chữ Hán được cấu tạo chủ yếu theo một trong 4 nguyên tắc: tượng hình, chỉ sự, hội ý và hình thanh.

 

1. Tượng hình: là nguyên tắc các chữ Hán dùng hình ảnh để  mô tả, vẽ lại sự vật một cách đơn giản nhất.

 

Ví dụ các chữ tượng hình: 马 mǎ (con ngựa)     ,月yuè (mặt trăng)    ,山shān (núi)    ,人 rén (người)    :

 

 

2. Chỉ sự: là nguyên tắc các chữ Hán được viết ra bằng các kí hiệu mang tính tượng hình, hoặc trên cơ sở chữ tượng hình được thêm kí hiệu.

 

Ví dụ: Chữ  一 yī    ,二  èr    ,三    sān dựa theo kí hiệu một gạch, hai gạch, ba gạch để biểu thị số 1, 2, 3.

Chữ 本 běn     (nghĩa là căn bản, gốc, nguồn gốc, căn nguyên) được tạo từ một chữ tượng hình 木 mù (chữ mộc: nghĩa là cái cây)    và một kí hiệu 一 ở bên dưới, tạo thành 本 běn    , để nhấn mạnh phần gốc, mở rộng nghĩa ra là chỉ nguồn gốc, căn nguyên, gốc gác của sự việc .

 

3. Hội ý: là  nguyên tắc các chữ Hán được cấu tạo từ các bộ, nghĩa của chữ sẽ mang ý nghĩa của các bộ.

 

Ví dụ: Chữ  看  kàn (nhìn)    , được cấu tạo từ hai bộ: bộ thủ  手  shǒu (nghĩa là tay)    và bộ mục  目  mù (nghĩa là mắt)    , hai bộ kết hợp lại, ta hình dung việc lấy tay để phía trên mắt, để chắn ánh sáng phía bên ngoài, cho mắt nhìn rõ hơn.

 

4. Hình thanh: là nguyên tắc các chữ Hán được cấu tạo bởi hai bộ phận:

                                             

- Phần hình: thường ở bên trái của chữ, dùng hình ảnh, ý nghĩa của mình để biểu thị ý nghĩa của cả chữ.

 

- Phần thanh: thường ở bên phải của chữ, dùng âm thanh mình để biểu thị âm thanh của cả chữ.

 

Ví dụ: Chữ  吗  ma     (trợ từ ngữ khí, đứng cuối câu dùng để hỏi: “có phải không?”), được cấu tạo bởi phần phần hình là chữ 口 (kǒu), và phần thanh là chữ 马  (mǎ) , tạo thành chữ 吗   có ý nghĩa là dùng mồm để hỏi, và âm thanh đọc là ma (gần giống âm đọc của chữ 马  (mǎ)  .

                               

 

Bài Tập Mở Rộng

NGUỒN GỐC

CHỮ TƯỢNG HÌNH

NÉT CƠ BẢN

NÉT BIẾN THỂ

KẾT CẤU BỐ CỤC

NGUYÊN TẮC TẠO NGHĨA

 

MUA NHIỀU HƠN 2 THẺ HỌC LIÊN HỆ 

ZALO: 0974 698 987 ĐỂ NHẬN CHIẾT KHẤU

& LỘ TRÌNH

HỌC ONLINE CÙNG GIÁO VIÊN 

ONLINE 1 GIẢNG VIÊN - 1 HỌC SINH

MIỄN PHÍ

CHUYỂN ĐỔI GIỮA CÁC KHÓA HỌC

Footer